09/07/2026

Quy hoạch cảng biển vừa được điều chỉnh với nhiều thay đổi đáng chú ý: số lượng cảng biển giảm từ 36 xuống còn 23, bổ sung các khu bến phục vụ công nghiệp, năng lượng và ưu tiên phát triển các dự án chiến lược tại Cần Giờ, Liên Chiểu, Nam Đồ Sơn. Bộ Xây dựng vừa Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể kết cấu hạ tầng hàng hải thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là là cơ sở để triển khai thực hiện lập điều chỉnh Quy hoạch chi tiết kết cấu hạ tầng hàng hải thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo quy hoạch điều chỉnh mới, hệ thống cảng biển Việt Nam có 23 cảng biển, thay vì 36 cảng biển như quy hoạch trước đây.


Quy hoạch điều chỉnh cập nhật lượng hàng, lượng hành khách, đội tàu theo dự báo nhu cầu vận tải chung cho 5 lĩnh vực. Đồng thời, cập nhật lại số lượng cảng biển, không còn quy hoạch các nhóm cảng sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Quy mô hàng hóa, hành khách thông qua các cảng biển cũng được điều chỉnh. Đáng chú ý, quy hoạch bổ sung các khu bến mới phục vụ công nghiệp, năng lượng (ngành thép, LNG), bổ sung định hướng quy hoạch 3 khu công nghiệp tàu biển tập trung phân bổ tại ba miền Bắc, Trung, Nam và cập nhật công năng bến cảng Hòn Khoai là bến cảng lưỡng dụng. Cạnh đó, điều chuyển tuyến vận tải ven biển thuộc quy hoạch kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa thành tuyến vận tải ven bờ thuộc kết cấu hạ tầng hàng hải.

Mục tiêu tới năm 2030, hệ thống cảng biển đáp ứng thông qua lượng hàng hóa từ 1.396 -1.656 triệu tấn (trong đó hàng container từ 48,6 - 57,4 triệu Teu, chưa gồm hàng trung chuyển quốc tế); hành khách từ 18,5 - 20,4 triệu lượt. Xây dựng khu bến cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ (TP.HCM), khu bến Liên Chiểu (Đà Nẵng), khu bến Nam Đồ Sơn (Hải Phòng). Tầm nhìn đến 2050, năng lực hệ thống cảng biển đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 4,3- 4,9%/năm, hành khách tăng trưởng bình quân từ 1 - 1,4 %/năm.

Theo quy mô, chức năng, hệ thống cảng biển Việt Nam được phân loại gồm: Cảng biển đặc biệt (Hải Phòng và cảng biển TP.HCM); 15 cảng biển loại I (cảng biển Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh, Cần Thơ, Vĩnh Long); 6 cảng biển loại II (Hưng Yên, Ninh Bình, Đắk Lắk, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau). Các cảng biển Thanh Hóa, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Cần Thơ quy hoạch tiềm năng thành cảng biển đặc biệt. Hệ thống kết cấu hạ tầng hàng hải công cộng bao gồm đê chắn sóng, chắn cát, khu neo, chuyển tải, tránh trú bão, kết cấu hạ tầng phục vụ công tác bảo đảm an toàn hàng hải, hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu hàng hải, hạ tầng quản lý nhà nước chuyên ngành hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, hạ tầng cảng cạn, hệ thống bãi tập kết container (rỗng) gắn với cảng biển và công nghiệp đóng mới, sửa chữa, phá dỡ tàu thuyền được quy hoạch, đầu tư phù hợp với quy mô các bến cảng biển, xu hướng phát triển đội tàu, nhu cầu vận tải từng giai đoạn và khả năng cân đối, huy động nguồn lực. Đến năm 2030, tổng nhu cầu sử dụng đất khoảng 19.800ha và tổng nhu cầu sử dụng mặt nước khoảng 1.838.500ha. Nhu cầu vốn đầu tư hệ thống cảng biển khoảng 581.000 tỷ đồng (chỉ bao gồm các bến cảng kinh doanh dịch vụ xếp dỡ hàng hóa) được huy động chủ yếu từ nguồn ngoài ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác.

Đối với các dự án ưu tiên đầu tư, quy hoạch phân rõ các dự án thuộc kết cấu hạ tầng hàng hải công cộng và bến cảng biển. Trong đó, đầu tư kết cấu hạ tầng hàng hải công cộng phù hợp với khả năng, lộ trình huy động, bố trí vốn, ưu tiên: thiết lập, nâng cấp tuyến luồng Hải Phòng (đoạn Lạch Huyện, kênh Hà Nam), luồng sông Văn Úc - Nam Đồ Sơn và hệ thống đê chỉnh trị (giai đoạn khởi động); Các luồng sông Chanh, Cẩm Phả, Bắc Nghi Sơn, Nam Nghi Sơn, Cửa Lò; luồng và đê chắn sóng Vũng Áng, luồng Chân Mây, kết cấu hạ tầng dùng chung tại khu bến Liên Chiểu; các luồng: Cửa Lở, Ba Ngòi, Vũng Tàu - Thị Vải và tuyến kè kênh Quan Chánh Bố. Đối với bến cảng biển, ưu tiên đầu tư các bến tiếp theo thuộc khu bến Lạch Huyện; bến khởi động khu bến Nam Đồ Sơn (Hải Phòng) đồng bộ với đầu tư luồng sông Văn Úc - Nam Đồ Sơn và hệ thống đê chỉnh trị (giai đoạn khởi động); Các bến tại khu bến Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu); khu bến cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh); các bến tại khu bến Liên Chiểu (Đà Nẵng), khu bến Phù Mỹ (Gia Lai), khu bến Bãi Gốc (Đắk Lắk).

Nguồn: Báo Xây dựng

 

 

 

ĐƯỜNG DÂY NÓNG

Điện thoại: 
Email: 

+84-(0)24.32242309
thanhtrahh@vinamarine.gov.vn

Thời gian tiếp công dân: 

 

Từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần
- Sáng từ: 8 giờ 00 phút đến 11 giờ 30 phút
- Chiều từ: 13 giờ 30 phút đến 17 giờ 00 phút.

Lịch tiếp công dân: 

- Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam thực hiện tiếp công dân định kỳ một ngày trong một tháng vào ngày 25 hàng tháng (nếu trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ, ngày Tết, ngày nghỉ bù theo quy định thì ngày tiếp công dân là ngày làm việc đầu tiên liền kề).
Cán bộ được giao nhiệm vụ tiếp công dân thực hiện tiếp công dân từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần.

Bộ phận Một cửa: 

1. Bộ phận một cửa tại cơ quan Cục HHĐTVN đặt tại tầng 1 nhà A, số 8, đường Phạm Hùng, phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
2. Bộ phận Một cửa làm việc từ thứ 2 đến thứ sáu hàng tuần, trừ ngày nghỉ theo quy định.Thời gian làm việc trong ngày như sau:
a) Buổi sáng: 8h00' đến 12h00'
b) Buổi chiều: 13h00' đến 17h00'
3. Số điện thoại BPMC: 
+84-(0) 2437683192
Trường BPMC:
0904089009

 

HÌNH ẢNH & VIDEO

LIÊN KẾT WEBSITE

THỐNG KÊ TRUY CẬP

    • Tổng số :30566247
    • Online: 118