09/04/2026

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH THÔNG TƯ

1. Cơ sở chính trị, pháp lý

1.1 Cơ sở chính trị

Việc ban hành Thông tư là cần thiết nhằm cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực hàng hải; đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.

1.2 Cơ sở pháp lý

- Căn cứ Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015

- Căn cứ Bộ luật Lao động năm 2019 (Điều 105, Điều 106, Điều 107, Điều 108, Điều 109, Điều 110, Điều 111, Điều 112, Điều 113, Điều 114, Điều 115, Điều 116, Điều 166) có hiệu lực từ 01/01/2021.

- Căn cứ Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.

- Căn cứ Thông tư số 11/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc độc hại, nguy hiểm.

- Căn cứ Thông tư số 19/2023/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành bổ sung danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

- Căn cứ Quyết định số 706/QĐ-BXD ngày 28/5/2025 của Bộ Xây dựng về ban hành Quy chế soạn thảo, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng;

- Căn cứ Quyết định số 126/QĐ-BXD ngày 29/01/2026 của Bộ Xây dựng về ban hành Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2026.

2. Cơ sở thực tiễn

Đối với công việc dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước đặt hàng và giao kế hoạch về bảo đảm an toàn hàng hải trên vùng biển Việt Nam bao gồm từ công tác vận hành hệ thống báo hiệu đèn biển, luồng hàng hải đến công tác khảo sát, thực hiện thanh thải chướng ngại vật trên luồng hàng hải, vùng cảng biển và các công trình khác; điều tiết đảm bảo an toàn hàng hải đối với các công trình thi công và các hoạt động khác diễn ra trên vùng cảng biển và luồng hàng hải; dịch vụ dẫn dắt tàu biển ra vào các cảng khu neo đậu tàu, khu chuyển tải; sửa chữa công trình dân dụng và công nghiệp phục vụ ngành hàng hải ... Các báo hiệu hàng hải, các tuyến luồng hàng hải luôn được đảm bảo thông số kỹ thuật và chuẩn tắc luồng, bảo đảm cho tàu thuyền ra vào an toàn ngày đêm. Do đặc thù ngành nghề, người lao động làm việc rải rác tại các đảo đèn, luồng hàng hải trên cả nước. Công việc đòi hỏi phải thường trực 24 giờ/ngày, làm việc trong môi trường khắc nghiệt, nguy hiểm ở những nơi có vị trí xa xôi, hẻo lánh, trên núi cao, đảo xa bờ, xa khu dân cư, giao thông đi lại khó khăn, thiếu điện lưới, nước ngọt sinh hoạt; chịu tác động lớn của sóng gió, lũ lụt, sạt lở đất...

Chế độ thời giờ làm việc không quá 06 giờ/ngày đối với người lao động trong lĩnh vực bảo đảm an toàn hàng hải đã được áp dụng ổn định trong nhiều năm. Thực tiễn cho thấy việc áp dụng chế độ này đã bảo đảm hệ thống báo hiệu hàng hải và các tuyến luồng được vận hành liên tục, an toàn, đúng quy chuẩn kỹ thuật; không phát sinh sự cố do yếu tố con người. Đồng thời, chế độ này góp phần bảo vệ sức khỏe, ổn định tâm lý người lao động trong điều kiện làm việc xa bờ, biệt lập, nhiều rủi ro; tạo điều kiện duy trì đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm. Việc duy trì thời giờ làm việc 06 giờ/ngày cũng giúp ổn định phương án tổ chức lao động, bố trí ca kíp, định mức lao động và phương pháp xác định chi phí tiền lương trong giá dịch vụ sự nghiệp công, hạn chế xáo trộn trong công tác quản lý, điều hành. Trong bối cảnh điều kiện làm việc và tính chất công việc không thay đổi, việc thể chế hóa quy định này là cần thiết để bảo đảm tính kế thừa và ổn định.

Việc ban hành Thông tư sẽ tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất cho việc quản lý, tổ chức lao động trong lĩnh vực bảo đảm an toàn hàng hải; bảo đảm tính minh bạch, hợp pháp trong việc xác định chế độ lao động, tiền lương và chi phí dịch vụ công. Đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý và khả thi của chính sách trong quá trình tổ chức thực hiện. Từ các cơ sở pháp lý và thực tiễn nêu trên, việc xây dựng và ban hành Thông tư quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt trên biển trong lĩnh vực hàng hải là cần thiết.

    II. CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO THÔNG TƯ

1. Bố cục Thông tư

Dự thảo Thông tư gồm 03 Chương 10 Điều:

Chương I: Quy định chung

- Điều 1. Phạm vụ điều chỉnh

- Điều 2. Đối tượng áp dụng

- Điều 3. Giải thích từ ngữ

Chương II: Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

- Điều 4. Thời giờ làm việc

- Điều 5. Làm thêm giờ

- Điều 6. Thời giờ nghỉ ngơi

- Điều 7. Nghỉ hàng năm

- Điều 8. Nghỉ lễ, tết; Nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương

Chương III: Điều khoản thi hành

- Điều 9: Trách nhiệm của người sử dụng lao động

- Điều 10. Hiệu lực thi hành

2. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt trên biển, công việc phải thường trực 24/24 giờ trong lĩnh vực bảo đảm an toàn hàng hải.

Đối tượng áp dụng                                               

Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có thuê mướn sử dụng lao động làm công việc trên biển, công việc phải thường trực 24/24 giờ trong lĩnh vực bảo đảm an toàn hàng hải.

Người lao động làm công việc trên biển, trên luồng hàng hải, công việc phải thường trực 24/24 giờ trong lĩnh vực bảo đảm an toàn hàng hải.

3. Nội dung dự thảo Thông tư

Việc ban hành Thông tư nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý và khả thi trong tổ chức lao động, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo đảm an toàn hàng hải.

- Dự thảo Thông tư quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt trong lĩnh vực bảo đảm an toàn hàng hải. Đối tượng áp dụng gồm hai nhóm: (i) người lao động phải thường trực 24/24 giờ như công nhân vận hành, bảo trì đèn biển; vận hành, bảo trì báo hiệu hàng hải trên luồng hàng hải công cộng; (ii) người lao động làm việc trên biển như thuyền viên, kỹ thuật viên, công nhân kiểm tra tổng quan, bảo trì, sơn phảo dưỡng báo hiệu hàng hải; thay, thả điều chỉnh phao báo hiệu hàng hải; tiếp tế (Điều 1, 2).

- Thông tư quy định thời giờ làm việc không quá 06 giờ trong một ngày, được tổ chức theo chế độ ca, kíp để bảo đảm hoạt động liên tục 24/24 giờ. Thời giờ nghỉ ngơi được bố trí phù hợp giữa các ca làm việc, đồng thời cho phép nghỉ bù, nghỉ gộp và nghỉ phép theo đặc thù làm việc dài ngày tại các khu vực xa bờ, biệt lập. Việc tổ chức thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi phải bảo đảm phù hợp với điều kiện lao động thực tế, đặc điểm sản xuất và yêu cầu bảo đảm an toàn hàng hải; đồng thời tuân thủ quy định của pháp luật lao động (Điều 4, 5, 6,7, 8).

- Thông tư cũng quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bố trí ca kíp, bảo đảm điều kiện làm việc, thời gian nghỉ ngơi và an toàn lao động cho người lao động (Điều 9).

- Các cơ quan, đơn vị có liên quan có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát và kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh (Điều 10).

Dự thảo Thông tư không phát sinh thủ tục hành chính./.

(Mọi ý kiến đóng góp về dự thảo Thông tư vui lòng gửi về địa chỉ email: huongtt@vinamarine.gov.vn).

ĐƯỜNG DÂY NÓNG

Điện thoại: 
Email: 

+84-(0)24.39421893
thanhtrahh@vinamarine.gov.vn

Thời gian tiếp công dân: 

 

Từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần
- Sáng từ: 8 giờ 00 phút đến 11 giờ 30 phút
- Chiều từ: 13 giờ 30 phút đến 17 giờ 00 phút.

Lịch tiếp công dân: 

- Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam thực hiện tiếp công dân định kỳ một ngày trong một tháng vào ngày 25 hàng tháng (nếu trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ, ngày Tết, ngày nghỉ bù theo quy định thì ngày tiếp công dân là ngày làm việc đầu tiên liền kề).
Cán bộ được giao nhiệm vụ tiếp công dân thực hiện tiếp công dân từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần.

 

HÌNH ẢNH & VIDEO

LIÊN KẾT WEBSITE

THỐNG KÊ TRUY CẬP

    • Tổng số :29238980
    • Online: 81